Ai cũng có những tuần như vậy: con thi cuối kỳ, công việc dồn tới hạn, hoặc trong nhà có người ốm cần chăm. Những tuần đó, bữa cơm thường là thứ bị hy sinh đầu tiên — ăn tạm, ăn muộn, hoặc gọi đồ ăn ngoài liên tục.
Một thực đơn soạn sẵn cho tuần bận không làm tuần đó bớt bận, nhưng giúp bữa ăn không thành thêm một việc phải nghĩ. Bài này gợi ý cách chuẩn bị trước, kho đồ dự trữ nên có, và cách nấu cho người đang ôn thi hay đang ốm.
Nhận ra tuần bận từ trước
Nhìn lịch cả nhà vào cuối tuần trước. Lịch thi, hạn nộp việc, lịch khám bệnh — tuần nào dày đặc thì đánh dấu là tuần bận.
Tuần bận dùng thực đơn riêng. Không cố giữ thực đơn bình thường; đổi sang bộ thực đơn chỉ gồm món nhanh và món làm sẵn.
Báo cả nhà biết trước. Mọi người biết tuần này ăn đơn giản hơn thì không ai chờ món cầu kỳ.
Chọn người chịu trách nhiệm bữa ăn. Người bận nhất không nên là người nấu chính tuần đó; chia lại việc trong nhà.
Hạ tiêu chuẩn một chút là được. Hai món thay cho ba, món một tô thay cho mâm — vẫn đủ chất, vẫn ăn ngon.
Không hạ tiêu chuẩn an toàn thực phẩm. Tuần bận dễ để đồ ăn ngoài lâu, quên cất tủ lạnh; đây là chỗ cần nhắc nhau nhất.
Chuẩn bị vào ngày rảnh cuối cùng. Ngày rảnh trước tuần bận là ngày nấu phần nền và sơ chế.
Mua đủ đồ một lần. Tuần bận không nên có lần đi chợ thứ hai; mua đồ để được lâu là chính.
Danh sách bữa ăn dán ở chỗ dễ thấy. Ai về sớm nhìn vào là biết tối nay làm gì, không phải hỏi.
Tuần thi của con khác tuần ốm của bố mẹ. Người ôn thi cần bữa đều giờ, người ốm cần món mềm; xác định đúng loại tuần bận.
Có thể có nhiều loại bận cùng lúc. Khi đó ưu tiên người cần nhất — người ốm, trẻ nhỏ — rồi tới phần còn lại.
Gọi đồ ăn ngoài vài bữa không sao. Tính trước bữa nào ăn ngoài, để không mua thừa và không tự trách.
Trợ lý thực đơn có dịp "Bữa tối 20 phút". Chọn dịp này để lấy mâm ba món mà món lâu nhất không quá hai mươi phút.
Một kế hoạch đơn giản tốt hơn không có. Chỉ cần biết trước năm bữa tối là đủ cứu cả tuần.
Chuẩn bị trước trong một buổi
Nấu một nồi nước dùng rau củ. Ninh củ cải, bắp, su hào; chia hộp để ngăn mát vài ngày, ngăn đá lâu hơn.
Nấu sẵn một món kho. Đậu hũ kho nấm hay mì căn kho gừng ngấm hơn sau một đêm, đủ cho hai ba bữa đầu tuần.
Chiên sẵn đậu hũ. Đậu chiên vàng cất hộp, trong tuần chỉ cần rim sốt hoặc xào nhanh.
Sơ chế củ quả. Gọt sẵn cà rốt, su hào, cắt bí đỏ cho vào hộp kín ở ngăn mát.
Không sơ chế rau lá quá sớm. Rau lá cắt sẵn nhanh héo, nhũn; rửa và để ráo là đủ, cắt lúc nấu.
Nấu sẵn đậu hạt. Đậu xanh, đậu đỏ nấu chín chia phần, dùng cho cháo, chè, xôi trong tuần.
Pha sẵn nước sốt. Nước tương pha chanh đường, sốt cà, kho quẹt chay để hũ kín trong ngăn mát.
Gói sẵn chả giò, cất ngăn đá. Tuần bận lấy ra chiên là có ngay một món mặn.
Ghi ngày lên mọi hộp. Tuần bận dễ quên hộp nào nấu bao giờ; một dòng ghi chú cứu được cả nồi đồ.
Đồ nấu sẵn cất tủ lạnh trong vòng một giờ. Để nguội ngoài cả buổi chiều là cách làm hỏng công chuẩn bị nhanh nhất.
Không chuẩn bị quá bốn ngày. Nửa sau tuần dựa vào đồ khô, đồ đông lạnh và món mười lăm phút.
Rủ cả nhà cùng làm. Một buổi chiều ba người cùng sơ chế nhanh hơn một người làm cả tối.
Dọn tủ lạnh trước khi chuẩn bị. Tủ gọn thì nhìn vào biết ngay còn gì, không mua trùng.
Một buổi chuẩn bị đổi lấy năm tối nhẹ nhàng. Đây là món hời nhất của tuần bận.
Kho đồ dự trữ cho tuần không kịp đi chợ
Gạo, bún khô, miến, mì. Nguồn tinh bột để lâu, nấu nhanh, là nền của mọi bữa cấp tốc.
Nấm khô và đậu hạt khô. Nấm hương, nấm mèo, đậu xanh cất được lâu, chỉ cần ngâm.
Tàu hũ ky khô. Nguồn đạm để lâu, ngâm mười phút là dùng được.
Rau củ đông lạnh. Đậu Hà Lan, bắp hạt, rau củ cắt sẵn đông lạnh cứu được nhiều bữa cơm chiên, mì xào.
Củ quả để được lâu. Bí đỏ, khoai lang, khoai tây, cà rốt, bắp cải giữ được nhiều ngày ở nơi thoáng.
Rong biển khô. Một nắm rong biển với đậu hũ là bát canh mười phút.
Đậu hũ đóng hộp hoặc đậu hũ non đóng hộp. Hạn dùng dài hơn đậu tươi, hợp làm món dự phòng; xem kỹ hạn và cách bảo quản trên bao bì.
Gia vị nền đủ đầy. Nước tương, nước mắm chay, dầu ăn, tiêu, gừng, sả đông lạnh.
Sữa đậu nành hộp. Cho bữa sáng vội; sữa đậu nành tự làm thì phải đun sôi kỹ ít nhất mười phút.
Trái cây để được vài ngày. Chuối, cam, táo cho tráng miệng và bữa phụ khi học bài khuya.
Hạt rang cho người lớn. Hạt là bữa phụ tiện; nhà có trẻ dưới bốn tuổi thì không cho trẻ ăn hạt nguyên.
Không tích trữ quá mức. Dự trữ đủ cho một hai tuần, xoay vòng dùng trước hạn rồi mua bù.
Kiểm tra hạn dùng mỗi tháng. Đồ khô cũng có hạn; thấy mốc, mọt thì bỏ, không tiếc.
Trợ lý "Tủ lạnh còn gì nấu nấy" dùng kho này. Đánh dấu những thứ còn trong kho, trợ lý gợi ý món nấu được ngay.
Món mười lăm phút cho tối về muộn
Canh rong biển đậu hũ. Nước sôi, cho đậu, cho rong biển, tắt bếp — dưới mười lăm phút.
Cơm chiên rau củ đông lạnh. Cơm nguội cất tủ lạnh từ hôm trước, rau củ đông lạnh, nước tương — một chảo là xong.
Mì xào rau củ. Mì trụng nhanh, xào cùng rau cải và nấm, có ngay một đĩa đủ chất.
Đậu hũ chiên sẵn rim sốt cà. Có đậu chiên sẵn thì món này chỉ còn mười phút.
Canh cải ngọt gừng. Rau nấu với nước dùng sẵn và gừng đập dập, nhanh và ấm bụng.
Bún chay nước dùng sẵn. Rã đông nước dùng, trụng bún, thêm đậu chiên và rau sống.
Trứng chiên nấm cho nhà ăn trứng. Món đạm nhanh nhất, nhà thuần chay thì thay bằng đậu hũ non xào nấm.
Đậu bắp luộc chấm chao. Món rau năm phút, không cần cắt.
Miến xào nấm mèo. Miến ngâm nước nguội mười phút, xào cùng nấm và rau là thành món.
Một tô thay ba món. Ngày mệt nhất, một tô bún hay đĩa mì xào đủ đạm và rau là bữa tối trọn vẹn.
Nấu song song để xong cùng lúc. Món lâu bắt đầu trước; trợ lý thực đơn sắp sẵn lịch nấu theo phút.
Dọn trong lúc chờ. Rửa dao thớt khi nồi đang sôi, ăn xong chỉ còn bát đĩa.
Ăn đúng giờ quan trọng hơn ăn nhiều món. Bữa tối ba mươi phút đúng giờ tốt hơn bữa ba món lúc mười giờ đêm.
Gõ ô hỏi trợ lý khi bí. Gõ "tối nay về muộn, có đậu hũ với cải, nấu gì trong 15 phút", trợ lý hiểu và lên món.
Bữa ăn cho người đang ôn thi
Ăn đều giờ hơn ăn nhiều. Bữa sáng, trưa, tối đúng giờ giúp người ôn thi không bị đói hay quá no khi đang học.
Bữa sáng không bỏ. Xôi đậu xanh, cháo, bánh mì đậu hũ chuẩn bị từ tối hôm trước.
Bữa tối không quá no, không quá muộn. Ăn quá no sát giờ ngủ thường làm khó ngủ; ăn vừa và sớm hơn một chút.
Món quen hơn món lạ. Mùa thi không phải lúc thử món mới có thể không hợp bụng.
Bớt món chiên nhiều dầu. Món hấp, kho, canh dễ ăn hơn khi phải ngồi học lâu.
Bữa phụ là trái cây, sữa đậu nành. Thay cho đồ ăn vặt nhiều đường khi học khuya.
Uống đủ nước. Để sẵn bình nước trên bàn học thay cho nhiều cốc nước ngọt.
Không ép ăn. Người đang căng thẳng có khi ăn ít; chuẩn bị món họ thích và để họ ăn theo sức.
Cho người ôn thi chọn món. Một món yêu thích mỗi ngày giúp bữa ăn thành lúc nghỉ ngơi.
Không biến bữa ăn thành lúc hỏi bài. Bữa cơm là lúc thả lỏng, không phải lúc kiểm tra kết quả học.
Ngày thi ăn món nhẹ, quen. Bữa sáng ngày thi nên là món đã ăn nhiều lần, không thử món mới.
Không có món ăn "giúp thi tốt". Bữa ăn đều và đủ là đủ; thực phẩm chức năng hay chế độ đặc biệt thì hỏi bác sĩ.
Chuẩn bị cơm hộp cho ngày thi xa nhà. Món để nguội vẫn ngon như đậu kho, cơm cuộn rong biển chay; cất giữ mát.
Sau kỳ thi nấu một bữa thật ngon. Một mâm cả nhà cùng ngồi ăn là cách khép lại tuần bận đẹp nhất.
Khi nhà có người ốm
Làm theo dặn dò của bác sĩ trước tiên. Người ốm có chế độ ăn riêng thì theo bác sĩ; những gợi ý dưới đây chỉ dành cho bữa ăn thông thường.
Món mềm, dễ nuốt. Cháo nấm đậu hũ, canh rau nấu mềm, đậu hũ non hấp hợp người đang mệt.
Chia bữa nhỏ. Người ốm thường ăn ít mỗi lần; nấu ít và nấu lại hơn là nấu một nồi to.
Hâm lại một lần, cho thật nóng. Đừng hâm đi hâm lại nồi cháo nhiều lần; chia phần trước khi cất.
Đồ ăn để ngoài không quá hai giờ. Trời nóng thì không quá một giờ; người ốm cần được ăn đồ an toàn hơn ai hết.
Uống đủ nước theo dặn dò. Nước ấm, canh loãng giúp người ốm dễ uống hơn; lượng cụ thể hỏi bác sĩ.
Phần còn lại của nhà vẫn cần ăn. Nấu chung nồi cháo, người khoẻ thêm món mặn chay và rau; không ai phải ăn cháo cả tuần.
Người chăm sóc cũng cần ăn đủ. Người chăm người ốm hay bỏ bữa nhất; chuẩn bị sẵn phần cho họ.
Tách dụng cụ nếu người ốm bị bệnh dễ lây. Bát đũa riêng, rửa kỹ bằng nước nóng; cách phòng lây cụ thể hỏi người có chuyên môn.
Vệ sinh tay trước khi nấu. Người chăm người ốm rửa tay kỹ trước khi vào bếp.
Không tự đặt chế độ ăn kiêng. Kiêng khem khi ốm có nhiều lời truyền miệng; điều nên kiêng phải hỏi bác sĩ.
Nhờ người thân hỗ trợ bữa ăn. Một nồi canh, một hộp cơm người thân mang tới giúp người chăm sóc có thời gian nghỉ.
Trợ lý thực đơn có dịp mâm cho ông bà. Chọn dịp này để lấy món mềm, ít dầu, không cay cho người cần ăn nhẹ.
Thấy người ốm ăn uống kém kéo dài thì đi khám. Bữa ăn chỉ là phần hỗ trợ; chán ăn, sụt cân kéo dài cần được bác sĩ xem.